ngôi nhà 300 con ma
Ảnh minh họa

Người đàn bà ăn mày và 10 đứa con điên

Chuyện về người đàn bà mưu sinh bằng công việc ăn mày, đẻ tới 10 đứa con điên khùng, thì người dân cả con đường Đà Nẵng (Quận Ngô Quyền, Hải Phòng) đều biết. Tôi đến đầu ngõ 239, hỏi nhà bà Nguyễn Thị Nở, chị bán hàng xáo đầu ngõ chạy ra hỏi: “Chú là nhà hảo tâm đến cho tiền bà Nở hả?

Gia cảnh nhà đó đến là khổ. Nhưng chị khuyên chú thật lòng nhé, vào đó thì đeo bùa vào. Trong nhà ấy có mấy trăm con ma. Chú không phòng thân, ma nó nhập, nó theo chú về thì khổ. Đấy chú xem, một ngôi nhà mà có 10 người điên. Toàn đứa đẹp đẽ, sáng sủa, mà tự dưng phát điên. Không phải ma nó làm cho điên thì ai làm?”.

Sau khi đưa ra lời khuyên, thì chị mới chỉ đường cho tôi tìm vào ngôi nhà ấy. Tôi đi mãi, ngoắt ngoéo, tìm chẳng ra đường. Thấy có người lạ, cứ loay hoay, thì một bà mở cổng chạy ra chỉ giúp.

Bà cũng dặn: “Nhà đó có lắm ma lắm. Hàng xóm chúng tôi cũng thương gia đình ấy, nhưng chẳng ai dám vào đâu. Sợ lắm. Đất ấy toàn ma với quỷ. Ông thầy địa lý còn bảo người Tàu yểm xương cốt người chết vào đấy, nên ai vào cũng phát khùng, phát điên”.

Căn nhà ở cuối ngách, cũ nát, tường lở loang lổ, cổng rả xộc xệch, thật khác thường so với những ngôi nhà khang trang, cao tầng xung quanh. Bà Nở mở rộng cửa, đón khách. Căn nhà tối om, lúp xúp. Màn buông. Cô con gái út tên Bích nằm còng queo trong chăn. Lạnh quá, không có quần áo ấm, nên hai mẹ con ru rú trong nhà.

Bà Nở bảo, bình thường bà lang thang xin ăn, nhưng mấy hôm nay rét quá, lại được một cha xứ cho 10kg gạo mỗi tháng, nên bà ở nhà. Thôi thì ăn dè ăn sẻn cũng đủ sống qua ngày.

Nhìn ngó mãi, tôi chẳng thấy trong căn nhà rộng chừng 30 mét vuông có thứ gì đáng giá. Có lẽ, để hoang ngôi nhà này, may ra có mấy bà đồng nát xấu bụng nhặt được mấy cái xoong méo mó. Sống giữa thành phố hoa lệ, song bà Nở vẫn đun bếp bằng củi, khói bay mù mịt, làm nức mũi hàng xóm.

Bà Nở giải thích: “Gạo ăn còn chẳng có, cháu bảo lấy tiền đâu mà mua gas, mua than. Cô phải đi dọc hai bờ sông Cấm, xem có miếng củi nào dạt vào bờ thì vớt lên phơi, phơi khô thì chẻ ra, bó lại, vác về chất trong bếp đun dần.

Hàng xóm xung quanh cũng tốt bụng, ai có giường tủ, bàn ghế mục nát, cũng để dành cho cô. Giường của người chết họ cũng không đốt, không thả trôi sông, mà cho cô chẻ ra đun. Mấy cái chiếu mới trải tạm xuống nền nhà để mấy mẹ con ngủ cũng là của người chết bố thí cho đấy”.

ngôi nhà 300 con ma
Nhiều thầy địa lý, thầy cúng, thầy phong thủy, thậm chí cả thượng tọa nổi tiếng tìm đến ngôi nhà, rồi phải bỏ chạy tá hỏa vì trong nhà có tới… 300 “con ma” (ảnh minh họa)

Tôi ngồi xuống manh chiếu của gia đình có người mới chết cho để trò chuyện với bà. Bà Nở ngồi thu lu ở góc nhà, đôi mắt đục buồn nhìn vào bốn bức vách. Tôi hỏi chuyện bà Nở, cô con gái Phạm Thị Bích thi thoảng lại thò đầu khỏi chăn tranh trả lời thay mẹ. Nhưng cũng chẳng rõ cô nói gì.

Tôi hỏi mấy câu về cuộc đời bà, theo thói quen, rằng đời bà lúc nào thấy khổ nhất, bà Nở chẳng biết bắt đầu từ đâu. Bà bảo: “Suốt đời cô, cô chả thấy lúc nào sướng, lúc nào cũng khổ, cũng không biết lúc nào là khổ nhất cả.

Gần 70 tuổi rồi, cô vẫn phải đi ăn mày để nuôi thân, nuôi con, thì cháu bảo đến bao giờ cô mới hết khổ. Không biết, chết đi rồi, ở kiếp khác, cô có khổ nữa không nhỉ?”.

Bà Nguyễn Thị Nở sinh năm 1945, đúng vào năm cả nước chết đói, chết như ngả rạ. Quê bà ở xã Cộng Hiền (Vĩnh Bảo, Hải Phòng). Bố mẹ là bần nông. Nghèo đói, rách nát. Người mẹ sinh tới 6 người con, nhưng cả 6 người con cứ chập chững biết đi thì lăn ra chết.

Bà Nở là người con thứ 7. Lúc bé Nở vừa ra đời, thì ông bố bỗng dưng lăn ra chết. Người thì đồn rằng, vợ đẻ, ông sung sướng quá nên lăn ra chết, người thì bảo ông lo nghĩ nhiều quá, sợ đứa con thứ 7 này cũng sẽ có số phận giống anh chị, nên ông lăn ra chết.

Cũng có thể đói quá mà chết. Thời điểm bé Nở ra đời, nhà không có gì ăn, cả làng chết đói, thế mà cô bé Nở vẫn sống. Dân làng bảo Nở là người giời, không có gì ăn suốt một tuần mà không chết, cứ khóc oe oe. Bà Nở bảo, đời bà là vậy, sinh ra đã đói, đã khổ rồi.

Hồi bé Nở tròn 1 tuổi, đói quá, mẹ ra đồng mò cua kiếm ăn. Đang bắt cua, trời mưa, nên bà chạy về nhà xúc thóc cất đi. Bà dùng cào kéo thóc, máy bay địch càn qua làng, tưởng có người cầm súng, nên bắn xối xả. Mẹ bé Nở trúng đạn. Viên đạn xuyên từ nách xuống rốn. Bà ngoại bế bé Nở chạy sang. Mẹ bé Nở nằm chết trên vũng máu.

Dân làng phải dùng dao nạy mãi mới moi được viên đạn ra khỏi nách mẹ. Bà ngoại và cậu nuôi bé Nở. Tuy nhiên, năm bé Nở 3 tuổi, bà ngoại chết. Cậu bán bé Nở cho nhà địa chủ. Bé Nở làm con ở từ đó. Năm 11 tuổi, cải cách ruộng đất, gia đình địa chủ bỏ đi nơi khác, bé Nở về ở với cậu.

ngôi nhà 300 con ma
Người đàn bà ăn mày có số phận bi đát

Năm Nở 12 tuổi, người cậu nghèo quá, không nuôi được, nên đem Nở cho một người ở Hải Phòng làm con nuôi. Người mẹ nuôi là công nhân của nhà máy xi măng dưới Hải Phòng.

Hàng ngày, Nở giúp mẹ làm công việc quét dọn trong nhà máy, rồi đun nước sôi bán kiếm thêm. Tại đây, bà Nở đã quen và lấy ông Phạm Văn Phong, là công nhân bốc vác ở nhà máy. Ông Phong quê gốc ở Hà Nội, nhưng bố theo Tây, có tội với dân tộc, nên phải bỏ nhà, dạt xuống Hải Phòng làm thuê kiếm sống.

Tôi hỏi: “Gia đình nhà hai bác, có ai bị tâm thần không?”. Bà Nở ngẫm nghĩ mãi, nhưng không thấy có ai trong gia đình mình bị tâm thần. Gia đình ông Phong xưa kia theo Tây, là địa chủ, giàu có, quyền lực và cũng chẳng có ai bị tâm thần cả.

Hai con người gặp nhau, thành vợ thành chồng lúc nghèo đói, rách rưới, nhưng đều là người bình thường. Thế mà hai con người bình thường ấy lại đẻ ra tới 10 đứa con tâm thần. Thật là khó tưởng tượng!

Ngồi trong ngôi nhà lạnh lẽo, bà Nở bảo rằng, nguyên nhân 10 người con của bà bị tâm thần không phải do di truyền, mà vì trong nhà bà có… ma, thậm chí có tới 300 con ma.

Bà tin rằng, ma trú ngụ nhung nhúc trong ngôi nhà tin hin của bà. Thậm chí, mảnh đất bà ở, ngay dưới cái giường vợ chồng, con cái bà ngủ bị người Tàu yểm bùa. Mà bùa ấy khủng khiếp lắm, không thể gỡ nổi.

Bà Nở bảo rằng, bà tin là trong nhà bà có ma thật, bị yểm bùa thật. Chuyện này cả cụm dân cư, cả vùng đều biết rõ rồi. Thế nên, chả có ai dám bước chân vào nhà này, chứ đừng nói đến chuyện dám đến ở. Lời bà Nở nói quả không sai.

Khi tôi ngồi trò chuyện với bà, một số người hàng xóm biết, tò mò kéo sang. Tuy nhiên, họ chỉ đứng ngoài cổng dòm ngó, thi thoảng nói vọng vào vài câu, rồi lại đi mất.

Chiếc cổng xộc xệch nhà bà mở toang, nhưng không thấy ai dám thò một chân vào. Người dân trong vùng sợ ngôi nhà này đến nỗi, giá trị mảnh đất vuông vắn, rộng 60 mét vuông của bà, lẽ ra có giá ngót bạc tỉ, mà chỉ được trả có… 5 triệu đồng.

Chuyện là, hồi đầu năm, một là sợ ma quỷ quá, hai là túng thiếu quá, nên bà Nở quyết định rao bán nhà để kiếm mảnh đất ở quê, cách xa chỗ này, mong những đứa con hết bị ma ám, biết đâu lại khỏi điên. Hoặc bán nhà, có tiền thì chữa bệnh cho con, còn bà ra gầm cầu Bính, Cầu Niệm, Cầu Rào trú ngụ, hay rúc vào góc chợ ở với bọn nghiện cũng được.

Bà rao bán một hồi, thì có người tìm đến hỏi mua. Anh này sau khi xem xét thì trả giá 200 ngàn một mét vuông. Tính ra, miếng đất của bà, tổng cộng 60 mét vuông, vậy vị chi là 12 triệu đồng! Rẻ quá, bà không bán. Thời gian sau, lại có ông khách nữa tìm đến ngó nghiêng.

Bà cứ nói thẳng là ngôi nhà này có ma, không sợ ma thì hãy mua. Anh này bảo, trời không sợ, đất không sợ, sợ quái gì ma. Tuy nhiên, vì trong nhà lắm ma, nên anh ta chỉ trả giá 5 triệu đồng.

Bà Nở cứ lăn tăn, rằng sao trên đời lại có người đang tâm thế nhỉ? Thôi thì, mẹ con bà đành chấp nhận sống chung với… ma. Chứ bán ngôi nhà được mấy triệu bạc như thế, thì chỉ ăn mấy mữa là hết.

ngôi nhà 300 con ma
Dứt ruột đẻ tới 10 đứa con, con trai đẹp như tượng, con gái đẹp như hoa, đều bỗng nhiên điên khùng (ảnh minh họa)

Mảnh đất chết chóc

Theo lời bà Nguyễn Thị Nở (ngõ 239, đường Đà Nẵng, Quận Ngô Quyền, Hải Phòng), gia đình nhà bà và chồng bà, là ông Phạm Văn Phong đều bình thường, ông bà cũng đều bình thường, thì không có lẽ gì cả 10 người con ông bà sinh ra đều bị tâm thần nặng. Không thể có nguyên do di truyền ở đây.

Các thầy bói, thầy cúng, thầy địa lý đều khẳng định trong nhà bà con ma trú ngụ, bị yểm bùa, nên 10 người con đẹp đẽ của bà mới bỗng dưng phát điên như thế và bà tin hoàn toàn vào những lời phán đó. Chỉ đến khi những ông thầy này phán như vậy, bà mới cất công tìm hiểu ngôi nhà, mảnh đất mà bà đang ở.

Như đã nói ở kỳ trước, ông Phong, chồng bà Nở là người gốc Hà Nội, do bố theo Tây, khi cách mạng thành công, trốn biệt xứ, ông Phong dạt về Hải Phòng làm bốc vác ở nhà máy xi măng. Bà Nở quê gốc huyện Vĩnh Bảo, đi làm con nuôi, rồi quét dọn ở nhà máy xi măng, rồi nên duyên với ông Phong.

Lấy nhau, hai người ở nhờ căn hộ tập thể ở Đồng Bớp. Ở đây vài năm, sinh hai người con, buồn quá, ông bà chuyển về Hà Nội ở. Ông Phong bán nhà để đi nước ngoài, nhưng thất bại, mất trắng, nên hai vợ chồng lại dắt díu nhau về Vạn Mỹ (Hải Phòng) sinh sống. Ở Vạn Mỹ thời gian, lại chuyển về Đồng Bớp. Ở đây cũng chẳng được lâu thì chuyển về tập thể ở chợ Đổ.

Khi có 6 người con, thì tiếp tục chuyển nhà về Hạ Lý. Tuy nhiên, thời điểm đó, khu vực này là địa điểm xây rất nhiều chuồng xí của các khu tập thể. Không chịu nổi cảnh hôi thối, ông bà lại bán nhà chuyển về ngôi nhà hiện tại đang ở. Ngôi nhà ở Hạ Lý bán được 5 cây vàng, mua ngôi nhà này mất 3,8 cây, vẫn còn dư hơn cây để tiêu xài.

Xưa kia, ngôi nhà này ở ven đô, là một phần nhỏ trong mảnh đất rất rộng của ông Lý Hoạt. Ông này vừa là thầy thuốc vừa là thầy cúng. Giàu có, lắm tiền, nhiều bà theo, nên ông Lý Hoạt lấy rất nhiều vợ. Ông Lý Hoạt lấy tổng cộng 9 bà vợ.

Phía Tây mảnh đất của ông Lý Hoạt, hiện cách nhà bà Nở độ 100 mét vốn có một cây đa và một cái miếu.

Khu nhà bà Nở là vườn trồng rau, ông Lý Hoạt thường trồng su hào, cải bắp và xúp lơ. Ngày đó, không hiểu do cần tiền, hay lý do nào đó, mà ông Lý Hoạt cho đốn hạ cây đa, phá bỏ cái miếu, chia lô mảnh đất để bán một phần đất đi.

Sau khi phá miếu, bán đất, thì những tai họa kinh hoàng liên tiếp diễn ra với gia đình ông Lý Hoạt. Lần lượt 8 người vợ cùng hàng loạt con cái của ông lăn ra chết. Người chết bệnh tật, người chết tai nạn.

ngôi nhà 300 con ma
Con đường đến nhà bà Nở ngoắt ngoéo, tìm chẳng ra đường (ảnh minh họa)

Có bà đẻ được 2 con chết cả 2, bà đẻ 3 con chết cả 3. Thậm chí, bà thứ 8 đẻ được 7 người con thì chết cả 7. Cuối cùng là cái chết của ông Lý Hoạt. Bà vợ thứ 9, không rõ tên gì, mọi người gọi theo tên chồng là bà Lý Hoạt, đẻ được một người con, đặt tên là Thanh.

Sợ hãi mảnh đất nên bà cắt làm đôi bán đi rồi chuyển đi nơi khác ở. Bà Nở phải mất nhiều công sức lần tìm, mới gặp được bà vợ thứ 9 của ông Lý Hoạt và được bà này kể lại như vậy.

Mấy năm trước, đúng 30 Tết, bà vợ thứ 9 của ông Lý Hoạt, đang khỏe mạnh, lên giường ngủ và không bao giờ dậy nữa. Bà ra đi rất thanh thản. Anh con trai duy nhất của bà tiếp tục bán nhà, chuyển đi đâu không rõ.

Một phần mảnh đất của ông Lý Hoạt được bán cho bà K. Bà này cắt 60 mét vuông, xây một ngôi nhà nhỏ, rộng khoảng 30 mét vuông cho con gái và con rể ở. Vợ chồng cô này sống với nhau bao năm mà chỉ đẻ được một người con gái.

Tuy nhiên, đứa con này lại bị chột một mắt. Lời đồn mảnh đất có ma kinh dị quá, nên hai vợ chồng bán nhà bỏ đi miền Nam, không về nữa.

Người mua căn nhà từ cặp vợ chồng nọ là một thủy thủ tàu biển tên là Cao. Vợ anh này là giáo viên. Họ có với nhau một trai một gái. Anh Cao đi biển biền biệt, có khi mấy tháng mới về thăm vợ con một lần. Hàng xóm ai cũng ganh tị với sự giàu có của cặp vợ chồng này.

Người dân đồn rằng, mỗi lần đi biển về, anh lại mang về một nắm vàng đưa vợ, đựng đầy ống bơ. Hai vợ chồng đeo vàng lủng liểng khắp người.

Thế nhưng, ở được vài năm thì tai họa xảy đến. Anh chồng đường đường là một thủy thủy viễn dương, cực kỳ khỏe mạnh, sức vóc hơn người, tự dưng phát điên. Không đi tàu được nữa, anh ở nhà làm hương với vợ.

Điều trị thuốc men đầy đủ, nhưng bệnh tình của anh ngày càng nặng hơn. Sợ hãi quá, vợ chồng anh này bán ngôi nhà với giá rẻ mạt cho vợ chồng bà Nở.

Khi bán đất, vợ chồng anh này không nói gì đến chuyện đất ngịch, đất có “ma”, mà chỉ nói con cái lớn, cần chỗ ở rộng hơn nên bán nhà đi. Vợ chồng anh này hiện sống cách nhà bà Nở hơn cây số. Bệnh tâm thần của anh ta còn nặng hơn xưa.

Cuộc sống của ông Phong, bà Nở tuy khó khăn, chật vật vì đẻ nhiều, nhưng đầm ấm, vui vẻ. Tuy nhiên, khi chuyển về ngôi nhà này, thì tai họa liên tiếp giáng xuống gia đình. Đầu tiên là 3 người con gái đẹp như tranh vẽ của ông bà, là Phạm Thị Thái (SN 1965), Phạm Thị Dung (SN 1971) và Phạm Thị Cúc (SN 1973), đến tuổi 20, chuẩn bị lấy chồng, thì đều tự dưng lơ đơ, man mát.

Dù chưa tâm thần hẳn, nhưng thi thoảng có biểu hiện khác người. Rồi bỗng dưng 3 cô con gái này lần lượt mất tích. Người thì bảo bị lừa bán sang Trung Quốc, người thì bảo bị tâm thần bỏ đi lang thang, rồi chết đường chết chợ.

Mấy cô con gái này giờ ở phương trời nào, còn sống hay đã chết, bà Nở cũng không biết. Bao nhiêu năm rồi, không thấy tin tức gì cả.

ngôi nhà 300 con ma
Ông thầy địa lý còn bảo người Tàu yểm xương cốt người chết vào đấy, nên ai vào cũng phát khùng, phát điên” (ảnh minh họa)

Trong số 7 cô con gái, thì có hai cô lấy được tấm chồng, đó là Phạm Thị Lan (SN 1968) và Phạm Thị Tâm (SN 1969). Tuy nhiên, cuộc đời hai cô con gái này thì vô cùng bi đát. 18 tuổi, Lan đã có biểu hiện đơ đơ của người mắc chứng tâm thần. Chồng Lan lại là tay cờ bạc khét tiếng, ra tù vào tội không biết bao nhiêu lần.

Hồi đẻ đứa con đầu, ông chồng vẫn đang ngồi tù. Đau buồn, nên bệnh tâm thần của Lan càng nặng hơn. Khi cậu con còn đang bú mẹ, thi thoảng Lan lại cởi trần cởi truồng bế con trốn nhà đi lang thang giữa mùa đông giá rét. Khi sinh đứa con thứ hai được 4 tháng tuổi, thì chị… điên hẳn, không lúc nào tỉnh táo nữa, đập phá tanh bành nhà cửa.

Để an toàn cho bản thân chị và hai đứa con, gia đình đã phải đưa chị vào trại tâm thần ở Vĩnh Bảo. Từ khi vào trại, Lan không tỉnh táo lại được nữa. Có lẽ Lan phải chung thân với trại tâm thần. Con cái không ai nuôi, nên hiện một đứa phải gửi vào một trung tâm nuôi dưỡng nhân đạo ở Hải Phòng.

Cô con gái nữa của bà Nở lấy được chồng là chị Phạm Thị Tâm. Chị Tâm là con thứ 4. Hồi chưa lấy chồng, cũng hơi chập chập. Thi thoảng lại bỏ đi, nhưng đang đi giữa được tự dưng sực tỉnh, tự hỏi đường về nhà. Lúc tỉnh táo thì như người bình thường.

Trong số 10 người con của bà nở, thì Tâm được coi là tỉnh táo hơn cả. Tuy nhiên, cuộc đời chị thì bi đát hơn cả những người chị, người em bị thần kinh của mình. Người chồng đầu tiên của chị là trai Hà Nội hẳn hoi. Tuy nhiên, anh này lại là con nghiện nặng. Đời chị khốn khổ với ông chồng này. Cứ đói thuốc lại nhè vợ ra đánh.

Sau anh ta chết không rõ vì sốc thuốc hay AIDS. Chồng chết, chị đi bước nữa với người đàn ông ở Bắc Giang. Tránh vỏ dưa gặp vỏ dừa, chị lại lấy nhầm ông nghiện. Ở với anh này được vài năm, sống chả khác gì địa ngục. Anh ta sốc thuốc chết chị mới nhẹ nợ.

Người chồng thứ 3 của chị không nghiện ngập, nhưng lại có tính trăng hoa. Mấy năm trước anh ta bỏ nhà theo gái, bỏ mặc mẹ con chị Tâm. Mới ngoài 40 tuổi, chị Tâm đã qua 3 đời chồng, đẻ 6 lần, nhưng chết 2 con, chỉ còn 4.

Tuy nhiên, một cậu con của chị học bố, nghiện nặng, lại bị AIDS, đang nằm chờ chết. Một cô con gái mới 15 tuổi đã theo giai, rồi mang bầu, phải lấy chồng sinh con. Chị chính thức lên chức bà ngoại. Hiện chị Tâm đi làm phu hồ, xách vữa cùng đội thợ để nuôi 2 đứa con đang tuổi ăn tuổi học và một ông con nằm chờ chết.

Trong số 7 người con gái, thì có lẽ chị Phạm Thị Hoa (SN 1976) là điên nhất. Hồi trẻ, hoa cực kỳ xinh đẹp. 20 tuổi vẫn tháo vát đi buôn hoa quả. Hồi ông Phong, chồng bà Nở chết, chị đau buồn nằm bẹp ở góc nhà, ông ăn không uống gì, cũng không đi bán hàng nữa, người gầy xọp đi, đôi mắt dần trở nên vô hồn, lúc nào cũng nheo nheo vẻ sợ hãi.

Hoa đã điên khùng thực sự. Sau 3 năm nằm bẹp ở nhà, chửi bới cả ngày lẫn đêm, thì bà Nở đưa con vào trại Vĩnh Bảo nhờ nhà nước nuôi dưỡng.

Sư thầy “trục vong” bất lực với “ngôi nhà ma ám”

ngôi nhà 300 con ma
18 tuổi, Lan đã có biểu hiện đơ đơ của người mắc chứng tâm thần (ảnh minh họa)

Ngồi trong căn nhà cũ nát vữa lở loang lổ, bà Nguyễn Thị Nở thẫn thờ: “Ngày trước cả nước mình đói ăn, mải lo kiếm sống, nên không nghĩ nhiều đến chuyện tâm linh. Lúc vợ chồng tôi để ý đến chuyện đất cát, nhà cửa, thì lần lượt con cái điên khùng hết rồi, chẳng đứa nào được bình thường nữa chú ạ. Lúc ấy dù có trở tay cũng không kịp nữa”.

Cách đây 10 năm, nghe lời khuyên của những người hàng xóm, bà Nở và ông Phong rốt ráo đi tìm thầy để xem đất cát, xem mảnh đất gia đình bà ở có vấn đề gì về tâm linh không.

Thời điểm đó, ở Hải Phòng, có một vị thượng tọa nổi tiếng về tài “trục vong, diệt quỷ”, đó là Thượng tọa Thích Quảng Tùng, trụ trì chùa Dư Hàng (Quận Lê Chân, TP. Hải Phòng). Vợ chồng bà Nở lọ mọ đạp xe tìm đến ngôi chùa đẹp nhất Hải Phòng để nhờ vả thượng tọa theo mách nước của một số người.

Trước mặt ông bà là một cảnh tượng mà ông bà chưa từng chứng kiến, cả trăm người lờ đờ, lơ ngơ chả khác gì đàn con của bà đang ngồi xếp hàng chờ đến lượt để được Thượng tọa Thích Quảng Tùng “trục vong”. Khi đó, niềm hy vọng trong ông bà lớn hơn bao giờ hết. Nếu thượng tọa trục được vong ma, giúp đàn con của ông bà được hồi tỉnh thì chẳng có hạnh phúc nào bằng.

Sau khi “trục vong” xong cho mọi người, bà Nở mới tiến đến gần Thượng tọa Thích Quảng Tùng. Bà Nở nhớ lại: “Tôi đến trước mặt ông ấy, ông ấy không nói gì, mà cứ nhìn tôi rất kỹ. Ông ấy bảo nghiệp nhà vợ chồng tôi nặng lắm. Vong, ma ở nhà cũng nhiều lắm, làm hại cả nhà.

Ông ấy bảo không thể trục vong ở chùa một cách đơn giản như mọi người được. Ông ấy bảo tôi để lại địa chỉ, rồi cứ về, rồi ông ấy sẽ đến tận nhà tôi để xem xét giúp. Kể cũng lạ chú ạ. Ông Tùng tài thánh thật. Tôi chẳng nói câu nào, ông ấy chỉ nhìn tôi mà như là biết hết mọi chuyện về gia đình tôi”.

Đúng như lời hứa, mấy hôm sau, vào một ngày đầu thu năm 1992, Thượng tọa Thích Quảng Tùng tìm đến tận nhà bà Nở. Thượng tọa Thích Quảng Tùng quá nổi tiếng ở Hải Phòng, nên ông đi đến đâu người dân cũng biết, hâm mộ, xúm xít đi theo.

Thượng tọa mang theo một hộp bát giác, một con lắc. Bà Nở nhớ lại: “Thượng tọa Thích Quảng Tùng vào nhà tôi, chẳng nói gì, ông ấy đi xuống ngó nghiêng dưới bếp, rồi cứ đứng ở chỗ cái bể nước nhìn hồi lâu.

Ông ấy nhìn góc nhà, góc cái tủ cũ. Ông ấy xem xét, nhìn kỹ lắm. Tôi cũng không rõ ông ấy xem kiểu gì. Ông chẳng thắp hương, cũng không cúng bái, đọc kinh gì cả, chỉ đi lại nhìn ngó.

Xem xét nhà cửa một hồi, ông ấy gọi vợ chồng tôi đến, rồi cứ lắc đầu bảo nhà này lắm ma, lắm vong, khó giải quyết lắm. Ông ấy còn bảo, ngay cái bếp, chỗ tôi đun nấu bằng củi cũng có tới 30 con ma trú ngụ.

Nhìn chỗ nào trong nhà cũng thấy có ma, có khoảng 300 con ma, nên có cúng bái, trục vong ma cũng không ăn thua gì. Hồi đó, đám con điên khùng và cả mấy đứa bình thường vẫn ở nhà.

ngôi nhà 300 con ma
Sổ khám bệnh

Thầy Tùng bắt từng đứa ngồi thẳng lưng. Tay trái của ông đặt lên đỉnh đầu, tay phải quay con lắc nhanh dần, rồi tít mù trên mặt chiếc hộp bát giác. Cứ vừa quay con lắc, ông vừa bảo “có vong, có ma”. Rồi ông cầm cái cục gì như cục thủy tinh (cục thạch anh – PV) đặt lên đỉnh đầu mấy đứa, rồi tiếp tục quay tít con lắc trên mặt hộp bát giác.

Ông ấn cục đó vào vai phải, vai trái, sau lưng, phía trên ngực trái. Khi ông đặt cục ấy vào bụng, thì những đứa con tôi hét lên sợ hãi. Thượng tọa Tùng liên tục đọc niệm chú. Ông làm như vậy với lần lượt từng đứa một. Đám con của tôi hò hét sợ hãi co rúm cả người, hét lên đau đớn. Nhìn đôi mắt trắng dã của chúng nó, tôi thấy như người khác chứ không phải con mình.

Xong việc, ông ấy bảo tìm tất cả ảnh của các con đưa cho ông ấy, để ông ấy mang về chùa, tụng kinh sám hối giúp gia đình tôi, cho các vong hồn trú ngụ trong nhà tôi”.

Sau này, tôi tìm hiểu ở chùa Dư Hàng thì được biết Thượng tọa Thích Quảng Tùng không chỉ “bắt ma” trực tiếp trên cơ thể người, mà ông còn xác định “ma” và “bắt ma” qua ảnh. Những ai ở xa, không đến được chùa Dư Hàng, thì chỉ cần mang ảnh đến cho ông.

Ảnh to cũng được, ảnh bé bằng ngón tay cũng được. Ông đặt tấm ảnh trên mặt bàn, một tay áp vào ảnh, một tay quay con lắc. Ông kiểm tra cũng rất nhanh, chỉ vài giây là xong một tấm ảnh. Trường hợp nào phát hiện có “vong”, thì ông yêu cầu phóng ảnh to cỡ A4, rồi đặt vào chiếc hòm trong chùa.

Thậm chí, xem qua ảnh, ông cũng biết người đó còn khỏe mạnh hay đã tận số. Những “vong hồn, ma quỷ” được ông trục ra sẽ được ông giữ lại chùa, để nhà chùa tụng kinh sám hối, giúp các vong hồn siêu thoát, không ở lại trần gian hại người nữa.

Theo lời bà Nở, sau khi đưa ảnh cho Thượng tọa Thích Quảng Tùng, thì ông bảo: “Bệnh của các con bà nặng lắm rồi, không cứu chữa gì được nữa đâu. Dù có trục vong ma ra khỏi người thì cũng không khỏi được nữa.

Bệnh thì nặng, hạn gia đình thì còn to lắm, chưa biết bao giờ mới hết. Tốt nhất là ông bà đưa các cháu vào trại tâm thần để Nhà nước nuôi hộ, chứ không nuôi được nữa đâu”.

Nói xong, Thượng tọa Thích Quảng Tùng quay sang phía ông Phạm Văn Phong, chồng bà Nở bảo: “Ông không nuôi được chúng nó đâu. Ông đưa chúng nó vào trại đi. Ông cũng không sống lâu được nữa đâu”.

Bà Nở kể: “Nghe ông Tùng nói vậy ông Phong nhà tôi còn phản ứng, bảo là tôi khỏe thế này thì chết làm sao được. Lúc đó, ông Phong nhà tôi 60 tuổi, khỏe như vâm, có ốm đau gì đâu. Nhưng thời gian sau thì ông Phong lăn ra chết thật. Không hiểu ông sư Tùng ấy là người hay là thánh nữa chú ạ!”.

ngôi nhà 300 con ma
Các thầy bói, thầy cúng, thầy địa lý đều khẳng định trong nhà bà con ma trú ngụ, bị yểm bùa, nên 10 người con đẹp đẽ của bà mới bỗng dưng phát điên như thế (ảnh minh họa)

Nghe lời Thượng tọa Thích Quảng Tùng, ông Phong và bà Nở mới tính đến chuyện gửi con vào trại tâm thần. Đúng thời điểm đó, ông Thanh, nguyên Chủ tịch UBND phường Cầu Tre vào thăm gia đình bà Nở.

Nghe ông Phong, bà Nở trình bày nguyện vọng muốn gửi con vào trại tâm thần, ông Thanh lại thấy vợ chồng bà Nở khổ quá, vật lộn giữa đàn con điên rồ, chỉ biết hát hò, chửi bới suốt ngày đêm, nên đã làm giúp thủ tục, hồ sơ để đưa 3 người con gồm Hoa, Hoàng, Lan vào trại tâm thần ở Vĩnh Bảo để Nhà nước nuôi dưỡng.

Khi 3 người con điên nặng nhất được đưa vào trại, thì vợ chồng bà Nở đỡ vất vả hơn. Vợ chồng bà cùng hai cậu con trai là Phạm Văn Đức (sinh năm 1978), Phạm Văn Hậu (sinh năm 1979) và cô út Phạm Thị Bích (sinh năm 1983) cùng mưu sinh kiếm sống.

Thời điểm cách đây hơn 10 năm, 3 người con út này của bà Nở vẫn còn bình thường như bao thanh niên khác, cũng biết làm thuê làm mướn kiếm sống.

Ngay sau khi làm xong thủ tục, đưa người con thứ 3 vào trại tâm thần Vĩnh Bảo, thì ông Phong lăn ra chết, đúng như tiên đoán của Thượng tọa Thích Quảng Tùng. Thời điểm đó, ông Phong vẫn đi bơm xe, vá xe đạp, xe máy kiếm sống ở lề đường.

Một hôm, đang sửa xe, thì một người đàn ông nhìn ông Phong bảo: “Tôi là bác sĩ chuyên về tim mạch. Ông bị cao huyết áp nặng lắm rồi. Ông không điều trị đi là không cứu nổi đâu, chết lúc nào không biết”. Dù vị bác sĩ kết luận ông bị cao huyết áp, song ông Phong bảo với bà Nở rằng thấy người vẫn bình thường, không khó chịu lắm.

Tuy nhiên, bà Nở vẫn gom chút tiền để ông Phong đi khám bệnh. Các bác sĩ ở Bệnh viện Việt Tiệp kết luận ông Phong bị cao huyết áp rất nặng.

Không có tiền chữa bệnh, mà bác sĩ lại bảo dù tốn tiền cũng khó cứu được, nên ông Phong về nhà nằm, hai vợ chồng tìm cách tính toán tiếp. Thế nhưng, ngay hôm đó, ông Phong co giật, tai biến, rồi nằm bất động. Ông nằm bất động một thời gian thì chết.

Bà Nở nhớ lại: “Hôm đó, tôi đang nấu nướng dưới bếp thì cái Hoa hét toáng lên. Bố chết rồi, bố chết rồi!”. Tôi chạy lên, thì thấy ông ấy ngừng thờ, sùi bọt mép, mắt trợn ngược. Tôi vuốt mắt cho ông ấy bảo: Ông sống khôn chết thiêng, phù hộ cho mấy đứa còn lại không bị điên khùng nữa, để tôi đỡ vất vả.

Trước đó, cái Hoa vẫn bình thường, đi bán hoa quả kiếm sống. Nhưng nó chứng kiến bố chết, nó khóc lóc, hét toáng lên, rồi mất trí luôn chú ạ. Sau khi ông ấy chết, nó nằm bẹp trong nhà, không ăn, không uống gì cả, người chỉ còn bộ xương. Lúc tỉnh dậy, ăn được, thì suốt ngày hò hét, chửi bới. Nó ở nhà 3 năm thì tôi gửi vào trại Vĩnh Bảo. Đến giờ chưa có ngày nào nó tỉnh táo”.

Theo tamsueva

Xem thêm >> Thất kinh ngôi nhà 300 con ma ám khiến 10 người con lần lượt hóa điên tại Hải Phòng (Kỳ 2)

Xem thêm >> Chuyện có thật: Ma thắt cổ và bí ẩn những ngôi mộ vô danh ở Đà Lạt

Like page Phong Cách Sống để cập nhật tin tức mới nhất

6 BÌNH LUẬN

Gửi phản hồi