ngôi miếu gốc đa
Ảnh minh họạ

Tôi có một người bạn thân là họa sĩ khá nổi tiếng. Anh là người Tày, quê ở Trùng Khánh, Cao Bằng nhưng sinh sống và làm việc tại Hà Nội.

Anh là người rất mê văn chương, thích thiền, chuyên nghiên cứu về đạo Phật. Anh đặc biệt rất mê Ohso.

Mỗi khi ngồi thưởng trà, chúng tôi nói chuyện trên giời dưới bể nhưng cuối cùng, bao giờ cũng luận bàn về đạo Phật, về thế giới tâm linh huyền bí.

Biết tôi đang viết loạt phóng sự dài kỳ về nhân quả, anh rất lấy làm tâm đắc. Anh bảo: “Để tôi kể anh nghe câu chuyện xảy ra ở bản tôi cách đây dễ đến hơn 30 năm. Nó ám ảnh tôi đến độ, bây giờ, ngồi nhắm mắt lại, tôi vẫn ngỡ chuyện vừa xảy ra ngày hôm qua.

Từng tình tiết câu chuyện, tôi vẫn nhớ như in. Cũng nhờ chứng kiến toàn bộ câu chuyện này mà ngay từ hồi bé, tôi đã tin vào thế giới tâm linh, tin vào Luật nhân quả.

Nhưng thú thực, cho đến tận bây giờ, có những điều, tôi vẫn không tài nào lý giải được. Thế giới tâm linh quả là huyền bí mà khoa học hiện đại dẫu có thành tựu đến đâu cũng không thể tiếp cận, khám phá, lý giải một cách tận tường, thấu đáo”.

Rồi anh kể một cách chậm rãi. Giọng kể âm âm u u: Tôi sinh ra và lớn lên ở bản người Tày, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Bản tôi nghèo lắm, lèo tèo hơn chục nóc nhà.

Quanh năm ai cũng đầu tắt mặt tối mà nghèo vẫn hoàn nghèo. Được cái nghèo nhưng giàu tình cảm. Mười mấy gia đình trong bản tối lửa tắt đèn có nhau. Cha tôi là giáo viên.

Các anh chị tôi đều học hành đỗ đạt, làm cán bộ Nhà nước trên huyện, trên tỉnh nên gia đình tôi xếp hàng danh giá, khá giả nhất bản.

ngôi miếu gốc đa
Câu chuyện xảy ra đã hơn 30 năm nhưng mỗi khi nhớ lại đều ám ảnh vô cùng. Ảnh minh họạ

Cha tôi có người bạn nối khố tên là C. Hai người chơi với nhau từ thuở còn cởi truồng chơi bi, chơi đáo.

Tuy không cùng dòng máu nhưng tình thương dành cho nhau chẳng khác chi ruột thịt. Có miếng gì ngon cũng san sẻ cho nhau. Bác C. nghèo truyền kiếp.

Nghèo từ đời cụ kỵ, ông bà, cha mẹ, đến tận đời bác vẫn nghèo. Cũng bởi cha mẹ bác đông con. Đến khi bác lấy vợ, đẻ một lèo 5 đứa con, cả nhà vẫn sống chen chúc, chật chội trong ngôi nhà sàn ọp ẹp, cũ kỹ cùng cha mẹ với mấy anh chị em khác.

Đêm nào bác cũng sang nhà tôi uống trà, hút thuốc lào. Nhiều lần bác rầu rầu bảo: “Từ bé đến giờ, tôi chưa được một bữa ăn no, chưa được mặc một manh áo mới. Chẳng biết đến lúc chết, có được manh áo mới, bữa ăn no hay không?”.

Thương bác nghèo, cha tôi quyết định cho bác mảnh vườn ở ngay đầu bản để dựng nhà. Ngày gia đình bác chuyển sang ngôi nhà mới ở, bác sướng như người điên, lúc cười, lúc khóc.

Nhiều đêm, sướng quá không ngủ được, bác cứ đi hết từ tầng 2 nhà sàn xuống tầng 1, tay vân vê từng liếp tre, tấm gỗ.

Thỉnh thoảng, bác lại tự bấu tay mình xem mình đang tỉnh hay đang mơ. Căn nhà ấy có được, cũng là nhờ tấm lòng thảo thơm của bà con trong bản.

Người góp công, người góp của, người tặng gỗ, người cho tre, dựng cho bác căn nhà tạm. “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Người nghèo, cái gì được cho chẳng quý. Nhất là khi được gom góp bởi những người đồng cảnh ngộ. Nó chứa chan bao tình.

Ngôi nhà mới của bác C. nằm gần cây đa cổ thụ đầu bản. Thân xù xì, rễ xum xuê, tán lá xòe rợp, che phủ lên ngôi miếu cổ, được xây bằng đá, tuổi đời dễ mấy trăm năm.

Ngôi miếu tuy nhỏ, chỉ rộng chừng 10 mét vuông nhưng nổi tiếng linh thiêng. Ngày rằm, mồng một hàng tháng, đặc biệt vào ngày Tết tháng 3, tháng 7, Tết Nguyên đán, người dân bản tôi và một số bản bên, đến lễ rất đông.

ngôi miếu gốc đa
Dựng chuồng lợn, nhà xí gần sát nền ngôi miếu cổ linh thiêng. Ảnh minh họạ

Mọi người thành tâm cầu nguyện thần làng, thần núi, thần sông phù hộ độ trì cho dân bản được bình yên, làm ăn ngày càng sung túc.

Vào ngày mồng 5 Tết, cả bản mang đủ lễ vật: gà, xôi, rượu, thịt… ra miếu làm lễ tế thần. Lễ xong, mọi người rải chiếu ngay trước cửa miếu, dưới gốc đa, thụ lộc. Tiếng nói, tiếng cười râm ran. Không khí đầm ấm vô cùng.

Thế nhưng “vật đổi sao dời”. Cuộc chiến tranh biên giới xảy ra, cả bản náo loạn. Cuộc chiến vừa mới kết thúc, khắp nơi bỗng rộ lên phong trào bài trừ mê tín dị đoan. Thầy mo ở các bản bị triệu tập, tham gia học lớp cải tạo.

Ông nội tôi, một thầy mo nổi tiếng, cũng phải lên huyện cải tạo một thời gian. Ngôi miếu đá cổ đầu bản tôi bị dỡ bỏ. Hôm ngôi miếu bị đập phá, cả bản tôi buồn như có tang.

Ngôi miếu là nơi thờ các vị thần. Phá bỏ ngôi miếu, khác gì phá bỏ bàn thờ gia tiên nhà mình. Nhiều người bật khóc. Có người lo sợ điều không hay sẽ xảy ra với bản. Riêng bác C. thì mừng ra mặt.

Bác bảo cha tôi: “Cách mạng giải phóng từ bao lâu rồi mà dân bản mình vẫn cứ mụ mị, u mê. Giàu, nghèo, sướng, khổ là ở mình, do mình chứ đâu phải ở thần thánh.

Nếu cứ cầu xin thần thánh mà các ngài cho tiền cho bạc thì tôi đã giàu từ tám hoánh nào rồi chứ đâu phải sống mãi trong kiếp nghèo trên răng dưới các tút thế này”.

Cha tôi bảo: “Ông đừng ăn nói hồ đồ. Văn hóa thờ cúng tổ tiên tâm linh cũng giống như văn hóa thờ cúng tổ tiên huyết thống, đã có truyền thống tự ngàn đời. Rũ bỏ văn hóa tín ngưỡng là rũ bỏ cội nguồn tâm linh, rũ bỏ tổ tiên huyết thống. Tôi là tôi lo lắm”.

Hôm trước vừa đập bỏ ngôi miếu cổ, hôm sau, cha con bác C. đã hỳ hụi dựng chuồng lợn, nhà xí ở góc vườn, gần sát nền ngôi miếu.

Bác bảo: “Làm nhà xí dưới tán đa cổ thụ rợp mát bóng che, đi ngoài, sướng khác gì tiên”. Vét sạch tiền, vay mượn thêm anh em, họ hàng, bác xuống chợ thị trấn, mua đôi lợn giống về thả chuồng.

Lúc thả lợn vào chuồng, bác còn hơ lửa, làm phép, cầu mong cho đôi lợn hay ăn, chóng nhớn. Chị Th. con gái bác, anh Tr., con trai lớn của bác đang tuổi cập kê, dựng vợ gả chồng. Không nuôi lợn, lấy gì làm tiệc thết đãi bà con dân bản?

Tai họa giáng xuống dồn dập

ngôi miếu gốc đa
Chị Th. con gái bác tự nhiên hóa điên, nửa tỉnh nửa mê vài ba bận… Ảnh minh họạ

Chằm bẵm suốt nửa năm giời, đôi lợn lớn nhanh như thổi. Ai cũng khen bác nuôi mát tay.

Bác C. bàn với anh Tr: “Mình nuôi cố thêm tháng nữa, bán quách đôi lợn này đi, lấy tiền, mua đàn lợn mới. Cha con mình nuôi mát tay, cứ đà này, chẳng mấy chốc, chuồng nhà mình sẽ trở thành trang trại lợn”.

Vừa bàn tính buổi sáng, buổi chiều, tự dưng hai con lợn kêu hộc lên một tiếng rồi ngã lăn quay ra đất. Bác C. nghe tiếng, hốt hoảng chạy xuống đã thấy máu từ miệng con lợn chảy ộc ra đen ngòm.

Bác kêu toáng lên. Anh Tr. vội vã chạy đến kiểm tra. Hai con lợn đã chết. Bác C. bưng mặt khóc hu hu. Của đau con xót. Bao nhiêu mồ hôi nước mắt. Bao nhiêu dự định vỡ tan. Tiếc đứt ruột ra ấy chứ.

Hai bố con vội đun nước sôi, cạo lông, làm thịt. Nhưng không hiểu sao, thịt lợn lại thâm tím từng mảng như hắc ín. Anh Tr. ứa nước mắt bảo: “Bố ơi! Thịt thâm đen thế này thì bán làm sao được?”.

Bác C. mếu máo: “Kệ! Bố cứ mang ra chợ thị trấn bán. Bán rẻ cũng được. Gỡ được đồng nào hay đồng ấy”.

Bác C. vừa rời bản lên chợ thị trấn được một lúc thì chị Th. ở nhà hóa điên. Chị là người con gái đẹp nức tiếng ở bản. Da trắng như trứng gà bóc, môi đỏ như son, tóc dài tới gót chân.

Chị cũng nổi tiếng là người hát hay. Giọng hát của chị ngọt như mía lùi, trong như tiếng suối, vang xa như tiếng đàn tính. Chị là niềm tự hào không chỉ riêng của bác C. mà của cả bản.

Biết bao chàng trai trong bản và cả bản bên mê đắm chị. Tối nào cũng mò đến chật kín chân nhà sàn nhà chị chỉ để được ngắm chị, chỉ để được nghe chị hát. Thế mà đùng một cái, chị hóa điên.

Người đầu tiên phát hiện ra chị Th. bị điên là thằng Mười con bác Phương, hơn tôi vài tuổi ở cùng bản.

Buổi chiều, nó đi chăn trâu về thì nhìn thấy chị Th. trần truồng ngồi vắt vẻo trên cành đa đầu bản. Chị vừa ngồi, vừa hát. Làn tóc mây rối bời, mắt ngây dại.

Đang hát, chợt nhìn thấy thằng Mười, chị ngừng hát, cười ré lên. Thằng Mười sợ quá, vội chạy về bản, gọi mọi người. Cả làng nháo nhác chạy ra xem.

ngôi miếu gốc đa
Chị Th. lúc lên cơn điên thì mò cua, bắt ốc, vồ ếch nhái… cứ bắt được con gì, chị bỏ ngay miệng nhai rau ráu. Ảnh minh họạ

Nhìn thấy chị ngồi vắt vẻo trên cành đa la đà, bé bằng cổ tay người lớn, ai cũng rợn tóc gáy. Chỉ sợ cành đa bị gãy. Đám trẻ chúng tôi trèo leo như khỉ mà đâu có đứa nào dám leo ra cái cành đa bé tẹo ấy đâu.

Một số người vội chạy về nhà, tìm mấy tấm chăn, đứng giăng phía dưới cành đa chị Th. ngồi, đề phòng chị ngã. Nhưng chị Th. chẳng sợ. Chị đong đưa hai chân theo nhịp hát.

Chị ngả người sang phải, sang trái khiến cành đa rung rinh, lá rụng xào xạc. Mọi người đứng dưới sợ thót tim. Chị Hằng, bạn chị Th., hét lên: “Ngồi yên Th. ơi! Đừng cử động thế. Ngã chết tươi bây giờ. Có ai cứu bạn tôi với”.

Chị Hằng đưa ánh mắt van lơn, cầu cứu khắp lượt. Nhưng mấy chục con người đứng dưới, chẳng ai biết phải làm gì. Bởi cành đa cao chót vót ấy, lại bé bằng cổ tay thế kia, leo ra thế nào được.

Chẳng biết có phải vì nghe thấy tiếng gọi đến lạc giọng vì hoảng sợ ấy của chị Hằng không, chị Th. bỗng ngưng hát, ngó mắt nhìn xuống khắp lượt.

Chị thần người một lát rồi vươn tay, túm lấy cành đa to phía trên, chị đu người leo thoăn thoắt về phía thân cây xù xì. Nhanh như con sóc, nhoằng một cái, chị đã nhảy bịch xuống đất trước mấy chục con mắt tròn xoe ngơ ngác, kinh hãi của dân bản.

Rồi không chờ cho mọi người kịp hoàn hồn, chị chạy ào về phía lũy tre um tùm phía góc vườn nhà chị. “Rào! Rào! Rào!”. Loáng một cái, chị đã đứng chót vót giữa bụi tre.

Ai cũng há hốc mồm ngạc nhiên. Lũy tre khổng lồ vài chục năm tuổi, cành, gai đâm tua tủa như chông thế mà sao chị có thể lao vào giữa bụi tre trong khi da thịt chị chẳng hề xước xát gì. Lạ quá!

Cái tin chị Th. bị điên truyền nhanh như gió, bay khắp bản. Người ta suốt ngày xì xầm bàn tán về chị. Người thì bảo chị bị ma nhập. Người thì bảo chị bị ai đó nèm chài. Bác C. buồn lắm.

ngôi miếu gốc đa
Dựng xong nhà vệ sinh ở sát nền ngôi miếu, gia đình bác C. thay đổi dự dội, tai họa dồn dập giáng xuống… Ảnh minh họạ

Buổi tối, bác sang nhà tôi ngồi khóc. Cha tôi bảo: “Tốt nhất cho cháu nó đi bệnh viện khám xem cụ thể thế nào”. Bác Cành bảo: “Tôi cũng nghĩ thế. Nhưng khổ nỗi trong nhà tôi chẳng có nổi 100.000 đồng thì đi viện làm sao được”.

Cha tôi đưa bác C. ít tiền rồi dặn: “Ngày mai ông bố trí đưa cháu đi viện nhé. Càng sớm càng tốt”. Nhưng sáng hôm sau, bác C. chưa kịp đưa chị Th. đi viện đã thấy chị vai vác cuốc lên nương xáo ngô, mặt tươi như hoa, miệng đon đả chào mọi người gặp trên đường.

Chẳng thấy dấu hiệu nào của cơn điên hôm trước. Bác C. mừng ra mặt. Bác vội vã chạy sang nhà tôi khoe: “Cháu Th. nhà tôi khỏi điên rồi. Tôi gửi lại tiền ông đưa hôm trước”.

Nhưng than ôi! Niềm vui của bác ngắn chẳng tày gang. Chừng hai tuần sau, chị lại lên cơn điên. Có điều, lần này, chị không trèo chót vót lên cây đa đầu làng nữa.

Chị nằm ngâm mình dưới suối. Đầu gối lên tảng đá. Làn tóc mây mềm mượt chảy dài theo suối. Điều kỳ lạ là trời mùa đông vùng núi cao rét cắt da cắt thịt như thế mà chị cứ khỏa thân ngâm mình dưới nước.

Chị nằm ngửa, mắt lim dim nhìn mây, ngắm sao. Chị không thấy rét. Nằm chán, chị lại vùng dậy, đi dọc bờ suối. Chị mò cua, bắt ốc, vồ ếch nhái… Bắt được con gì, chị bỏ ngay miệng nhai rau ráu.

Có lần, chị vồ được con vịt của nhà hàng xóm. Con vịt hoảng sợ, vùng vẫy, kêu quàng quạc. Chị nhét luôn cái đầu vịt vào miệng cắn. Con vịt giãy đành đạch. Tiết vịt trong miệng chị trào ra.

Vài phút sau, con vịt chết. Chị dùng tay, xé con vịt ra thành từng mảnh, nhai ngấu nghiến. Chị nhai cả lông. Rồi chị lại chạy ra bờ suối, ngâm mình dưới làn nước lạnh buốt.

Vài hôm sau, chị lại tỉnh. Nhưng từ bấy, chẳng chàng trai nào dám mò đến nhà chị tán tỉnh nữa. Người ta tránh xa chị như tránh hủi. Có lần, đám trẻ chúng tôi đang tắm cho đàn trâu dưới suối.

Nhác trông thấy bóng chị ôm chậu quần áo xuống suối giặt giũ, cả bọn bỏ cả trâu, chạy tán loạn. Thấy thế, chị Th. gọi với theo: “Đừng sợ các em. Chị bình thường rồi. Hết điên rồi”.

Chị Th. chỉ hết điên được chừng 2 tuần rồi lại nổi cơn điên. Sau này, bác C. phát hiện ra một điều, cứ bắt đầu ngày rằm và ngày mồng một âm lịch hàng tháng là chị lại hóa điên.

ngôi miếu gốc đa
Đi nghĩa vụ quân sự 3 năm, anh K. được cấp trên giữ lại, làm quân nhân chuyên nghiệp. Cả bản đến chúc mừng bác C. Cả bản vui lây, tự hào lây với niềm vui của bác. Ảnh minh họạ

Điên vài ngày, lại tỉnh. Sợ chị cứ ra lang thang bờ suối chết đuối có ngày, bác C. mua một cái xích, xích chân chị lại rồi nhốt chặt trong buồng.

Chẳng biết có phải chị Th. biết buồn hay không mà chị cứ i ỉ hát suốt ngày đêm. Tiếng hát buồn nẫu ruột nẫu gan. Nghe vừa xót xa, vừa ai oán.

Đêm khuya, tĩnh mịch, tiếng hát ấy như vọng từ cõi âm ty, nghe sởn hết cả da gà. Có điều, nghe riết thành quen. Hôm nào chị tỉnh, không hát, lại thấy nhơ nhớ.

Và rồi, vào một buổi sớm mồng một âm lịch, tiếng hát ấy mãi tắt lịm. Những người lên nương sớm phát hiện chị thắt cổ chết trên cành đa la đà sương khói. Trên người chị, không một mảnh vải che thân. Làn tóc mây dài tới gót chân chị bời bời bay trong gió.

Sau cái chết của chị Th. không bao lâu, bản tôi lại chứng kiến sự điên loạn của anh K., em trai chị Th. Anh xuất thân là bộ đội nhập ngũ. Cao to, trắng trẻo, đẹp trai, tóc xoăn. Trông lãng tử, hào hoa như diễn viên điện ảnh Lý Hùng. Anh là thần tượng của lũ trẻ bản chúng tôi.

Mỗi lần về phép thăm gia đình, anh tranh thủ lên nương trồng bắp. Anh diện áo lót trắng, quần đùi xanh, cơ bắp cuồn cuộn. Đám trẻ trâu chúng tôi suốt ngày ao ước có được thân hình cường tráng như anh. Suốt ngày hỏi anh bí quyết làm thế nào để có được thân hình lực lưỡng?

Đi nghĩa vụ quân sự 3 năm, anh K. được cấp trên giữ lại, làm quân nhân chuyên nghiệp. Cả bản đến chúc mừng bác C. Cả bản vui lây, tự hào lây với niềm vui của bác.

Với cái bản người Tày nghèo, heo hút, trở thành “người Nhà nước” là ước mơ, là con đường duy nhất để thoát khổ, thoát nghèo. Nhưng niềm vui ấy, đến với bác C. bất ngờ và ra đi cũng bất ngờ.

Bữa nọ, chúng tôi bắt gặp anh K. ở bản. Nhưng lần này, người anh gầy xác ve, mặt thất thần, mắt dờ dại, tóc rối bời. Gặp ai trên đường, anh cũng mắt la mày lét bảo: “Bản mình mới có hổ về. Mọi người cẩn thận nhé. Đừng có ra đường ban đêm. Đừng có đi một mình kẻo hổ vồ đấy”.

Nhìn cái mặt dài dại của anh, nhìn đôi mắt đầy sợ hãi của anh, ai cũng biết anh bị hoang tưởng. Nhưng rồi lần nào gặp cũng thấy anh K. cảnh báo “hổ về”, lại thấy anh hì hụi đặt bẫy hổ dưới chân nhà sàn, bỗng dưng, mọi người thấy sờ sợ, gơn gởn.

ngôi miếu gốc đa
Những người lên nương sớm phát hiện chị thắt cổ chết trên cành đa la đà sương khói. Ảnh minh họạ

Chưa biết chừng, hổ về thật. Bố tôi gắt: “Thời này, rừng phá trơ trụi. Con chim, con sóc còn chẳng có đất sống, lấy đâu ra hổ. Thằng K. bị điên thật rồi. Khổ thân ông C. quá”.

“Họa vô đơn chí”. Nỗi khổ, niềm đau về anh K. bị điên chưa nguôi, anh Tr., con trai lớn của bác C., bỗng kêu mắt trái bị mờ. Thoạt đầu, nhìn như có màn sương che lấp. Sau, kéo thành một lớp màng trắng đục khiến mắt trái anh không nhìn thấy gì nữa.

Một thời gian sau, mắt trái bác C. cũng bị y chang như vậy. Sợ quá, bác lên rừng hái thuốc về xông mắt. Lớp màng trắng đục bỗng chuyển sang màu đỏ lòm, trông như cục máu, rất sợ.

Cha tôi đến thăm, thấy gầm nhà sàn nhà bác, nước đái, phân trâu, phân bò bốc mùi nồng nặc. Nghĩ là do mất vệ sinh mới dẫn đến bệnh đau mắt nên cha tôi huy động mọi người đến làm tổng vệ sinh giúp bác.

Nhưng cũng chẳng ăn thua. Một thời gian sau, mắt phải của bác C. và anh K. lại bị mờ mờ như màn sương che lấp. Nguy cơ mù cả hai mắt.

Một hôm, cha tôi phát hiện ra ngôi nhà sàn của bác bỗng dưng nghiêng hẳn về bên trái, hướng về phía ngôi miếu cổ bị phá.

Trai tráng trong bản mỗi người một tay xúm lại tôn nền, chống nghiêng cho ngôi nhà của bác. Nhưng kỳ lạ thay, chỉ một thời gian sau, ngôi nhà lại bị nghiêng vẹo.

Cha tôi bảo bác C.: “Chắc chắn nhà ông vướng gì đó về tâm linh. Để tôi mời bố tôi đến cúng cho nhà ông xem sao”.

Ông nội tôi, vốn là thầy mo nổi tiếng khắp vùng, đến nhà bác C., thành tâm bày biện lễ vật, hương hoa cúng kiếng cho bác. Nhưng bệnh tình của anh K., anh Tr., và của bác vẫn ngày một nặng hơn.

Ngôi nhà sàn ngày càng nghiêng vẹo. Ông nội tôi thở dài, bảo: “Nhà này phạm điều gì đó ghê gớm lắm với thần linh nên mới bị quở phạt, đọa đày như vậy”.

ngôi miếu gốc đa
Chị Th. lúc lên cơn điên thì mò cua, bắt ốc, vồ ếch nhái… cứ bắt được con gì, chị bỏ ngay miệng nhai rau ráu. Ảnh minh họạ

Hóa giải phong thủy khôi phục miếu cổ

Thương bác C., cha tôi điện thoại, kể hết sự tình với anh trai tôi, công tác trên tỉnh. Biết anh có nhiều mối quan hệ với các nhà ngoại cảm, phong thủy, tâm linh, cha tôi nhờ anh giúp.

Thế là, vào một buổi sáng chủ nhật, anh tôi đón một nhà phong thủy nổi tiếng từ Hà Nội lên. Vị này có khả năng nhìn thấy, giao tiếp với người ở cõi khác.

Đi một vòng quanh ngôi nhà sàn của bác C., nhà phong thủy bảo: “Bên trái ngôi nhà này, dưới gốc đa kia, trước đây, có một ngôi miếu cổ. Thần linh ở đây thiêng lắm.

Bao đời nay độ trì cho bà con trong bản. Nay, gia chủ dựng nhà xí, chuồng lợn ngay cạnh nền đất thiêng, phạm thượng tới thần linh nên ngài quở phạt. Bảo gia chủ dẹp bỏ nhà xí, chuồng lợn, dọn dẹp vệ sinh sạch sẽ, làm lễ tạ thần linh, mọi thứ sẽ ổn”.

Nhà phong thủy dặn anh tôi: “Anh là người có tâm, lại có điều kiện kinh tế. Anh nên phát tâm dựng lại ngôi miếu thờ. Trước là tạo phúc cho anh, cho gia đình anh, sau là tốt cho dân bản”.

Nghe nhà phong thủy nói vậy, mấy anh em chúng tôi đi vào góc vườn nhà bác C., giáp với nền miếu cổ, dưới gốc đa cổ thụ. Cỏ cây khu này rậm rạp, cây cối um tùm.

Chúng tôi tá hỏa khi nhìn thấy nhà xí. Chao ôi! Bẩn thỉu, hôi thối kinh khủng. Ruồi nhặng bay ào ào như đàn ong vỡ tổ. Chuồng lợn đầy ngập phân, bốc mùi nồng nặc.

Ngay ngày hôm đó, nhà xí đã được dẹp bỏ. Chuồng lợn liền kề đó cũng được dỡ đi. Cả khu vườn được dọn dẹp vệ sinh sạch sẽ. Đích thân nhà phong thủy nổi tiếng làm lễ.

Và kỳ lạ thay, một tuần sau, anh K. bỗng dưng hết điên. Anh Tr., buổi trưa nọ, đi xuống chợ thị trấn, thấy đám đông đứng vòng quanh xem đoàn sơn lâm mãi võ biểu diễn các tiết mục xiếc, ảo thuật, anh cũng chen vào, nghểnh mặt ngó nghiêng.

Chợt phát hiện ra mắt anh kéo màng đỏ lòm như cục tiết, một người trong đoàn sơn lâm mãi võ đã kéo anh lên sân khấu, hùng hồn tuyên bố: “Bà con xem! Tôi sẽ chữa khỏi mắt cho anh này”.

Nói đoạn, vị này bảo anh Tr. ngồi xuống chiếc ghế tựa, ngửa cổ ra thành ghế, nhỏ một thứ dung dịch vào mắt anh..

ngôi miếu gốc đa
Nhà phong thủy dặn phải dọn dẹp sạch sẽ nhà vệ sinh, thờ cúng tạ tội với thần linh, phát tâm dựng lại ngôi miếu, mọi chuyện sẽ ổn. Ảnh minh họạ

Vài phút sau, anh Tr. đứng dậy, mắt chớp chớp nhìn mọi người. Anh bỗng òa khóc nức nở rồi quỳ sụp xuống, lạy chàng sơn lâm mãi võ như tế sao trong tiếng vỗ tay dậy núi đồi của bà con dân bản.

Cũng bằng pháp thuật tài tình ấy, đoàn sơn lâm mãi võ kéo về tận bản Tày chon von trên núi cao, cứu mắt còn lại cho bác C.

Anh trai tôi, nghe theo lời khuyên của thầy phong thủy nổi tiếng, đã đứng ra tổ chức, xây dựng lại miếu thờ trên đúng nền cũ.

Ngày khánh thành miếu trở thành ngày hội của cả bản. Rượu, gà, lợn, xôi nếp…, bà con dâng cúng kìn kìn. Các thầy mo nổi tiếng khắp vùng được mời đến làm lễ.

Buổi chiều, cả bản ngồi quây quần trước miếu, dưới gốc đa cổ thụ thọ lộc. Tiếng nói, tiếng cười râm ran. Bác C. đứng dậy phát biểu. Bác vừa nói, vừa khóc:

“Thưa bà con! Trước đây, tôi, vì màn vô minh che lấp, không tin vào nhân quả, không tin vào tâm linh nên gia đình tôi đã phải trả giá.

Bây giờ, tôi mới hiểu, vì sao, con gái tôi lại cứ phát điên vào ngày rằm và mồng một. Tiếng hát của con gái tôi lại đầy ai oán, xót xa, nghe âm u như từ cõi xa thẳm nào đó vọng về.

Bây giờ, tôi mới hiểu, vì sao tôi và con trai tôi bỗng dưng bị màng mắt che phủ, không thuốc nào chữa được. Chỉ khi dỡ bỏ nhà vệ sinh, làm lễ tạ lỗi, cha con tôi mới khỏi.

Hôm nay, tôi bỗng ngộ ra một điều, mọi sự việc trong cuộc sống này đều có mối liên hệ vô hình với nhau. Vì thế, chúng ta cần phải biết tôn trọng, yêu thương mọi sự, mọi vật trong cuộc sống này như chính bản thân mình”.

Theo Hoàng Anh Sướng (Tuổi Trẻ Đời Sống)

Like page Phong Cách Sống để cập nhật tin tức mới nhất

2 BÌNH LUẬN

Gửi phản hồi