Ngôi nhà 300 con ma

Lần lượt phát điên

Đang kể về đàn con tội nghiệp, bà Nguyễn Thị Nở (ngõ 239, đường Đà Nẵng, TP. Hải Phòng) ngước nhìn bàn thờ lạnh lẽo khói hương.

Trên bàn thờ ấy, có tấm ảnh chàng trai đẹp ngời ngời. Trông tấm hình tưởng tài tử điện ảnh, chứ ai ngỡ là chàng trai tâm thần. Đó là Phạm Văn Đức, người con thứ 7 của ông bà, mới chết được 3 năm nay. Nhắc lại cái chết của Đức, bà Nở ôm mặt khóc tu tu.

Theo bà Nở, Đức là đứa con khôn lanh, bình thường nhất của bà, là niềm hy vọng của bà cũng như cả gia đình lúc bà về già. Thế mà… Hồi đang học phổ thông trung học, Đức đi bơm xe kiếm tiền phụ giúp gia đình. Chẳng rõ mâu thuẫn thế nào, mấy thanh niên đầu gấu cầm cái bơm ném xuống sông Hạ Lý.

Tiếc của, Đức nhảy xuống sông mò bơm. Một thằng đứng ở trên bờ cầm hòn đá to bằng quả bưởi ném trúng đầu Đức. Cú ném làm rách toác đầu Đức. Đức bất tỉnh trong bệnh viện, mấy ngày sau mới tỉnh. Vết rách phải khâu tới 8 mũi.

Bà Nở tìm đến gia đình kia hòng bắt đền, nhưng gia cảnh nhà nó nghèo chẳng kém gì nhà bà. Bố nó chết sớm, mẹ nó thì bảo nó là thằng nghiện ngập, hư hỏng, bà muốn giết nó thì giết.

Sau khi ra viện, Đức suốt ngày kêu đau đầu, chóng mặt, không đi học được nữa. Thi thoảng Đức lại lăn quay giãy đành đạch, sùi bọt mép. Càng ngày Đức càng gầy còm, xanh xao. Đức mất trí, rồi điên khùng nặng. Bà Nở phải đưa con vào trại tâm thần.

ngôi nhà 300 con ma
Bà Nguyễn Thị Nở xót xa khi nói về những bí ẩn quanh ngôi nhà được cho là có “ma” của mình.

Vào trại tâm thần, bệnh Đức càng nặng hơn. Đức uống cạn cả chai nước lau nhà vệ sinh khiến viêm ruột nặng, chữa mãi không khỏi. Những lúc lên cơn, đau đớn, Đức mài mẩu sắt rạch nát cả mặt mũi, cơ thể. Và, trong một lần tỉnh táo nhất, Đức cởi áo, xoắn thành sợi thừng, vắt lên cửa sổ thắt cổ chết.

Hôm Đức chết, bệnh viện gọi bà Nở đến nhận xác con về chôn, nhưng bà nuốt nước mắt bảo: “Nhà không có gì bán được để mua quan tài, cũng chẳng có đất mà chôn. Các bác thương tình thì mai táng cho cháu nó, đời này, kiếp này, tôi mãi đội ơn các bác”.

Trại nuôi dưỡng bệnh nhân tâm thần mua tấm ván, rồi cho xe bò chở xác Đức ra nghĩa địa chôn. Hôm đó, bà Nở cũng đến xem họ chôn con mình, chẳng có kèn trống, chẳng có làm ma gì cả.

Từ ngày cậu con trai chết, thương xót con lắm, nhưng bà Nở cũng mới chỉ có đôi lần đi viếng được mộ con. Đó là hôm con mới được chôn và lần giỗ đầu. Giờ khu nghĩa địa hoang cỏ mọc um tùm, bà cũng không nhớ nổi con mình nằm ở chỗ nào nữa.

Bà Nở đau xót kể: “Đúng như tiên đoán của Thượng tọa T., cái hạn lớn của gia đình tôi không hết được. Ông T. bảo chồng tôi sẽ chết, rồi đám con của tôi cũng sẽ không đứa nào được bình thường.

Mọi chuyện xảy ra đúng như vậy, không sai tý nào. Ông Phong thì tai biến chết, mấy đứa con đang bình thường cứ lần lượt phát điên. Hai đứa con cuối cùng của tôi, là thằng Hậu và cái Bích, đang bình thường, cũng trở nên điên khùng nốt. Thế là tôi đã mất tất cả 10 đứa con”.

Sau khi người con thứ 8 Phạm Văn Đức treo cổ tự tử trong trại tâm thần, thì đến lượt cậu con trai thứ 9 Phạm Văn Hậu nổi điên. Lý do Hậu bị điên khùng cũng giống người anh trai. Đức bị đám côn đồ ném đá vào đầu, còn Hậu bị bọn cướp đánh vỡ đầu.

Hồi đó, Hậu vào Sài Gòn làm thuê. Cuối năm, kiếm được mấy chỉ vàng, thì về quê ăn Tết. Đang trên đường ra bến xe, gặp ngay bọn cướp. Chúng cướp sạch, lại đánh trúng đầu. Người dân đưa vào viện, nhưng không có tiền, không có người thân thích, điều trị không tốt, nên bị nhiễm trùng, vết thương lở loét, bốc mùi.

ngôi nhà 300 con ma
Chị Bích con gái út của bà Nở ngồi lặng lẽ bên góc nhà

Về nhà, Hậu kêu đau đầu, rồi nổi cơn điên. Một lần, cơn điên lên đỉnh điểm, Hậu đập phá nhà cửa tanh bành, không ai ngăn nổi. Đập phá chán thì Hậu phóng hỏa đốt nhà. Đúng lúc đó, thì cô con gái út Phạm Thị Bích, vốn đang tỉnh táo, cũng đột nhiên nổi điên, reo hò cổ vũ hành động đốt nhà của ông anh trai.

Cũng may mà hàng xóm chạy sang, người xô người chậu té nước dập kịp. Bữa đó công an đến bắt Hậu nhốt ở đồn, rồi đưa vào trại tâm thần. Ở trại tâm thần một thời gian, được điều trị tích cực, nên Hậu dần tỉnh táo.

Thời gian sau, Hậu được về. Hậu tìm vào Sài Gòn làm thuê làm mướn, lúc làm công nhân, lúc làm ở nhà máy gỗ, lúc làm hàn xì. Hậu đi biền biệt mấy năm nay, cũng không thấy tin tức gì.

Chúng tôi đang trò chuyện về Hậu, thì cô con gái út tên Bích của bà Nở thò đầu khỏi chăn xen vào kể chuyện. Bích kể: “Hôm nọ em đi xem bói, thầy bói bảo em có duyên với một anh già từ kiếp trước.

Anh già người âm này cứ ở trong người em. Thầy bói bảo em phải cắt tiền duyên, bỏ cái duyên ấy đi thì mới lấy được chồng, nhưng mà bỏ cái duyên ấy thì lại mất hết lộc. Giờ phải làm sao anh nhỉ?”.

Tôi hỏi Bích: “Thế em có người yêu chưa?”. Bích bảo: “Em yêu hai thằng rồi, nhưng em toàn bỏ thôi. Yêu một tháng thì bỏ. Chúng nó không nuôi được em. Không kiếm được mấy triệu cho em mua thuốc uống…”.

Bích đang nói, thì bà Nở chen vào: “Cứ nói luyên thuyên. Thằng nào thèm lấy đứa thần kinh, để mà lại đẻ ra con cái dở hơi”.

Theo bà Nở, Bích được bệnh viện Tâm thần xác nhận bị tâm thần phân liệt, nhưng uống thuốc đều đặn thì tỉnh táo lại, đỡ điên hơn. Hàng tháng, Bích vẫn tự ra phường lấy thuốc. Mỗi tháng uống 100 viên. Không uống thuốc thì không ngủ được.

Bà Nở kể: “Lâu nay Bích vẫn đi bán nước ở vỉa hè, kiếm được vài đồng bạc lẻ, nhưng mấy hôm nay trời lạnh, đầu óc nó chập chập, nên cứ rúc vào chăn nằm, không đi bán hàng nữa. Nó mà điên hẳn thì tôi chẳng còn thiết sống trên đời này nữa”.

Chết mới hết kiếp nạn!

Quay lại chuyện Thượng tọa T. bắt vong. Sau khi Thượng tọa T. đến nhà bà Nở, thì thời gian sau, có 8 vị sư đỗ xe ở ngoài đường Đà Nẵng, tìm đến nhà bà khiến cả xóm náo loạn, tò mò quây lại xem. 8 vị hòa thượng này nói là đệ tử, đồng môn của Thượng tọa T.

Các vị sư này đều là những người có chức sắc, có đức độ cao thâm, ở chùa Quán Sứ (Hà Nội) tìm xuống giúp đỡ gia đình bà. Lúc đó bà Nở mới biết Thượng tọa T., trụ trì một ngôi chùa Hải Phòng, nhưng lại có vị trí rất lớn của nền Phật giáo nước nhà.

ngôi nhà 300 con ma
Bí ẩn trong ngôi nhà “ma”

Vừa vào nhà, nhìn bà Nở, một vị cao tăng luống tuổi, mắt sáng, khuôn mặt đức độ đã nói ngay với bà: “Bà này khổ lắm. Bố mẹ chết sớm, thân cô thế cô, không nhờ được ai, không còn ai thân thích. Lấy chồng thì chồng lại hết phúc. Con cái thì điên hết. Rồi sẽ tan nát hết cả gia đình. Chỉ có chết thì mới hết kiếp nạn”.

Nghe vị cao tăng nói thế, bà Nở òa khóc. Những điều vị cao tăng kia nói không sai một chút nào cả. Chỉ có vài lời, nhưng đúng từ tông ti nhà bà, nhà chồng, cho đến gia cảnh hiện tại của bà. Bà Nở quỳ xuống vái vị cao tăng, nhờ ngài giúp đỡ trải qua kiếp nạn, vì khi đó mấy người con út của bà vẫn bình thường, chưa có triệu chứng tâm thần.

Vị cao tăng nói tiếp: “Bà không phải đi cúng bái gì đâu, vì không giải quyết được gì cả. Đây là cái nợ phải trả từ kiếp trước, đời trước. Giờ cứ trả hết nợ cho kiếp sau đi”.

Rồi 8 vị cao tăng ngồi khoanh tròn giữa nhà, trải sách ra. Tiếng mõ, tiếng chuông vang lên coong coong. Tiếng đọc kinh râm ran cả buổi chiều.

Đọc kinh xong, vị cao tăng khuyên bà Nở nên năng đi chùa, cầu kinh, kêu trời kêu Phật, để tinh thần thanh thản, sẵn sàng đối mặt với hiện tại, chứ không có cách nào vượt qua được kiếp nạn khủng khiếp này. Các vị cao tăng cũng không cứu được, chỉ có thể cúng cho nhẹ tôi hơn thôi.

Lời Thượng tọa T., rồi đến 8 vị sư trên chùa Quán Sứ đến bây giờ bà Nở vẫn nhớ như in. Đó là những lời của các vị thánh. Những điều họ nói, sau này đều diễn ra cả. Bà Nở cũng xác định rõ tư tưởng và đón nhận những điều khủng khiếp nhất xảy đến với mình.

Lần lượt, chồng bà, ông Phong đột quỵ, nằm liệt rồi qua đời, tiếp đó là cô con gái thứ 6 tên Hoa đang bình thường bỗng dưng tâm thần nặng, rồi tiếp đó là cậu con thứ 7 tên Đức, cũng nổi điên rất nặng, treo cổ trong trại tâm thần. Rồi tiếp tục đến cậu con thứ 9 tên Hậu nổi cơ điên phóng hỏa đốt nhà, và cô út tên Bích thấy anh đốt nhà thì cũng nổi điên vỗ tay cổ vũ. Vậy là bà Nở đã mất sạch sẽ cả đàn con 10 đứa.

Đời trước “khát máu” (?!)

Không còn chồng, 10 người con điên hết, bà Nguyễn Thị Nở (Ngõ 239, Đường Đà Nẵng, TP. Hải Phòng) không biết dựa vào ai. Mặc dù từng là công nhân, nhưng do đẻ một đàn con điên khùng, không ai chăm sóc, nên bà Nở bỏ dở, về một cục, thành ra chẳng có lương hưu.

Để có miếng ăn, bà dậy từ sáng sớm, ra vùng ngoại thành mua rau, gánh vào thành phố bán. Đi từ sáng đến đêm, kiếm được một hai chục ngàn. Đồ ăn của bà và các con là cơm thừa, canh cặn ở các nhà hàng, quán xá trong khu vực. Họ thương cảnh bà, nên dồn thức ăn thừa để bà mang về cho mấy mẹ con ăn.

ngôi nhà 300 con ma
Thầy thắp hương trên bàn thờ có rất nhiều tượng, những lá bùa xanh đỏ treo, dán khắp nơi.

Mấy năm nay, già cả, vất vả nhiều quá, nên sinh lắm bệnh tật, chân tay thường xuyên co rút, không thức khuya dậy sớm được, nên bà không đi bán rau được nữa. Có lần, quẫn quá, lúc đi qua cầu Bính, bà toan nhảy xuống sông. Nhưng dường như có sức mạnh vô hình ngăn bà lại. Bà chết rồi, không biết ai nuôi đàn con điên dở.

Cũng mấy năm trước, khi đứa con cuối cùng phát điên, quẫn quá, bà uống thuốc chuột. Tuy nhiên, hàng xóm phát hiện, đã kịp thời đưa bà đi bệnh viện rửa ruột.

Bà bảo: “Sinh ra vào năm 1945, đói rạc cả tuần không chết, rồi về già, tự tử cũng vẫn không chết. Có lẽ các vị sư nói đúng, kiếp trước tôi nặng nợ nhân gian nhiều quá nên kiếp này phải trả nợ cho hết. Thôi đành sống cho nốt kiếp khổ này để trả nợ!”.

Cũng may cho bà, mấy năm trước, các lãnh đạo phường Cầu Tre thương xót, giúp đỡ làm thủ tục trợ cấp cho gia đình. Hiện mỗi tháng bà và hai người con tâm thần sống cùng là Hậu và Bích được hỗ trợ mấy trăm ngàn. Mấy người con ở trại thì được Nhà nước nuôi dưỡng miễn phí.

Hiện tại, bà Nở chỉ biết trông chờ vào số tiền trợ cấp này. Một vị cha xứ cũng trợ cấp mỗi tháng cho gia đình bà 10kg gạo. Mấy mẹ con bà dè sẻn ăn số gạo đó. Chẳng bao giờ bà dám tiêu pha đồng nào, mà bà tích cóp lại, để phòng khi con lên cơn điên còn có tiền mua thuốc.

Như đã nói ở các phần trước, Thượng tọa T., về ngôi nhà vợ chồng bà Nguyễn Thị Nở xem xét và khẳng định rằng, ngôi nhà có rất nhiều “ma”, có tới vài trăm con “ma”, nên 10 người con của ông bà lần lượt phát điên, rồi chồng bà tai biến đột ngột mà chết.

Tuy nhiên, 8 vị sư ở chùa Quán Sứ tìm về đây, lại khẳng định rằng, do đời trước nhà ông Phạm Văn Phong, chồng bà Nở làm nhiều điều ác, nên kiếp này phải trả nợ.

Vị cao tăng bảo rằng, bà Nở vốn đã khổ, bố mẹ chết sớm, thân cô thế cô, lấy chồng thì chồng lại hết phúc. Chỉ có cái chết mới hết kiếp nạn. Vị cao tăng chỉ nói vài lời, nhưng khiến bà Nở choáng váng, vì nó quá đúng. Vị cao tăng bảo rằng, đây là cái nợ phải trả từ kiếp trước, đời trước.

Kiếp này cứ trả hết thì kiếp sau mới thoát nợ. Vị cao tăng sau khi nhìn mặt ông Phong thì nói rằng, đời trước nhà ông Phong có nhiều người làm quan tướng trong triều đình, chém người không ghê tay, thậm chí có cả đao phủ chặt đầu người vô tội rất nhiều, nên những đời sau phải gánh nghiệp ác do đời trước gây ra.

Đến đời bố ông Phong thì lại theo Tây, phản bội Tổ quốc, làm nhiều việc ác với đồng bào, nên thế hệ sau tiếp tục phải gánh nợ. Nhớ lại lời vị cao tăng nọ, bà Nở ngồi tổng kết lại những cuộc đời bi thảm, có thể nói là tột cùng của sự chết chóc bên nhà chồng mình.

ngôi nhà 300 con ma
Thấy làm phép nói: “Tôi cứ cúng giải hạn cho bà thôi, chứ không trấn yểm được đâu. Toàn ma quỷ thành tinh thế này thì làm sao mà xử lý được” (ảnh minh họa)

Ông Phạm Văn Phong sinh ra trong một gia đình có đông anh em. Quê gốc ở Vĩnh Phú. Bố ông Phong là chánh tổng, từng cướp đất của nhân dân rất nhiều. Sau gia đình chuyển về Hà Nội sinh sống.

Cách mạng thành công, bố ông Phong, tức bố chồng bà Nở chạy trốn vào Sài Gòn, làm lái xe cho tỉnh trưởng của chế độ cũ. Vào đó thời gian, ông bị bại liệt. Người con gái út phải chăm bẵm, phục dịch người cha sống thực vật suốt 20 năm trời.

Bố mẹ ông Phong có tổng cộng 7 người con, gồm 5 trai, 2 gái. Tuy nhiên, chỉ có 1 người còn sống sót, còn lại đều chết vì bệnh tật. Người anh cả là ông Phạm Văn Vân chết khi còn rất trẻ do bị xơ gan cổ trướng. Hiện vợ ông vẫn sống trên Hà Nội cùng duy nhất một người con gái.

Tuy nhiên, cuộc sống của họ thế nào, bà Nở cũng không biết, vì chẳng bao giờ gặp họ. Người anh thứ hai của ông Phong là ông Phạm Văn Lâm. Ông Lâm lấy vợ ở Vĩnh Phú, sinh được 3 người con. Ông Lâm cũng ốm đau dặt dẹo và chết khi còn trẻ. Ông Lâm chết vì lý do gì, bà Nở cũng chẳng biết.

Người anh thứ ba của ông Phong là ông Phạm Văn Vũ. Ông Vũ làm ở xi măng Hải Phòng. Chính ông Vũ là người đưa ông Phong về đây làm công nhân bốc vác. Ông Vũ lấy vợ ở Hải Phòng và có được 3 người con.

Tuy nhiên, hồi giặc Mỹ đánh phá miền Bắc, gia đình ông trú ẩn dưới hầm, bị trúng bom. Vợ chồng ông Vũ và một người con chết tan xác tại chỗ. Hai người con may mắn sống sót được em rể ông Vũ đem vào Nam nuôi dưỡng. Giờ bà Nở cũng không biết hai người cháu này ở phương trời nào, còn sống hay đã chết.

Bà chị ngay trên ông Phong là Phạm Thị Hải, lấy chồng và sinh sống ở Sài Gòn, cũng chết sớm. Bà này bị tiểu đường rất nặng. Bà chết được thời gian, thì người chồng mắc bệnh nặng, bụng sưng to tướng, rồi lăn ra chết.

Ông Phạm Văn Phong chính là người thứ năm trong gia đình. Số phận ông Phong bi thảm còn hơn những người anh em khác. Ông chết thì đành một nhẽ, nhưng tất tần tật cả 10 người con điên khùng là một nỗi đau không gì sánh nổi.

Người em trai ngay tiếp sau ông Phong là Phạm Văn Vĩ. Ông này cũng bị bệnh rất nặng về gan. Ông Vĩ lấy vợ và sống ở Cát Bi, Hải Phòng. Năm 60 tuổi, gan sưng to tướng và ông đã qua đời. Vợ con ông Vĩ đưa nhau vào Sài Gòn sinh sống và biệt tăm từ đó.

ngôi nhà 300 con ma
Đêm nào hồn ma cũng tìm đến bóp cổ dọa giết bà Nở (ảnh minh họa)

Trong đại gia đình này, hiện chỉ còn duy nhất cô em út, là bà Phạm Thị Bắc là còn sống. Bà Bắc ở Hà Nội, là giáo viên. Bà này có 3 người con. Một người đi bộ đội và đã chết, một người chết vì nghiện. Bà chỉ còn cô con gái.

Hồi ông Phong chết, bà Bắc về viếng. Thiêu xác ông Phong xong, bà đi luôn Hà Nội. Từ đó, không gặp lại nhau lần nào nữa. Cũng có đôi lần, bà Nở gọi điện lên, nhưng số máy không liên lạc được. Bà Nở tìm lên, nhưng bà Bắc không còn sinh sống ở đó nữa. Bà đã bán nhà, chuyển đi nơi khác. Người dân quanh vùng cũng không rõ bà đi đâu.

Bà Nở tin rằng, phúc phận của bà không có, lấy chồng thì nhà chồng mất phúc, ở mảnh đất lại nặng phần âm, nên đại gia đình bà chịu số phận nghiệt ngã. Không chỉ các vị sư nổi danh thiên hạ khẳng định ngôi nhà, mảnh đất gia đình bà ở bị ma ám, mà tất cả các ông thầy, bà đồng, đều khẳng định ngôi nhà có ma. Thậm chí, có ông thầy đến nhà bà làm lễ xong, thì sợ hãi không dám quay lại nữa.

Ông thầy này tên K., là người chuyên trấn trạch đất cát cho những gia đình chuẩn bị động thổ, xây nhà. Ở đất Hải Phòng, nhắc đến ông, nhiều người biết rõ.

Ông K. vốn là bộ đội chống Mỹ. Ông bị trúng bom, thương nặng, nằm bất tỉnh nhiều ngày. Lúc tỉnh dậy, ông như trở thành người khác, có khả năng đặc biệt. Hòa bình lập lại, rời quân ngũ, ông trở thành thầy cúng, chuyên soi đất, trấn yểm. Để mời được ông, phải là những người có vị thế, hoặc quen biết, vì ông K. quá nhiều việc, đi khắp đất nước.

Cách đây 6 năm, khi bà Nở đạp xe đến nhà ông K., đang loay hoay chưa biết gọi cổng ngôi nhà vườn ven thành phố rộng mênh mông như thế nào, thì có tiếng lạch cạch trong cổng, rồi cánh cổng lớn nặng trịch mở ra.

Một người đàn bà, có lẽ là giúp việc nhìn bà Nở hồi lâu rồi bảo: “Kỳ lạ thật. Lẽ ra ông chủ nhà tôi đã bay vào Sài Gòn từ sáng nay, nhưng ông ấy đã thông báo đổi vé đến tối. Ông chủ nhà tôi bảo sáng nay, đúng 9 giờ sẽ có một người đàn bà rất khổ, 60 tuổi, đạp xe đến tìm. Nhà bà này có nhiều người điên khùng nhất Hải Phòng. Tôi tò mò hỏi thật là gia cảnh nhà bà có đúng thế không?”.

Nghe người đàn bà mở cổng nói vậy, bà Nở run lên bần bật. Bà vừa sợ vừa khấp khởi mừng vui. Bà nghĩ rằng đã gặp được một vị thánh lớn, có thể giúp bà và gia đình vượt qua hoạn nạn.

Cái chết của thầy pháp

ngôi nhà 300 con ma
Nhiều thầy địa lý, thầy cúng, thầy phong thủy, thậm chí cả thượng tọa nổi tiếng tìm đến ngôi nhà, rồi phải bỏ chạy tá hỏa vì trong nhà có tới… 300 “con ma” (ảnh minh họa)

Chuyện gặp ông thầy pháp tên K. 6 năm trước đến giờ bà Nguyễn Thị Nở vẫn nhớ như in và mỗi khi nhớ lại, bà rùng mình sợ hãi, không hiểu vì sao ông K. lại có khả năng thần thông quảng đại, biết trước mọi chuyện như vậy.

Theo chân bà giúp việc, bà Nở lò dò đi qua khu vườn đầy hoa trái, hòn giả sơn, những chậu cây cảnh đắt tiền. Bà bước vào ngôi nhà gỗ kiểu cổ diện kiến thầy K.

Một chân thầy K. bị thương, đi lại tập tễnh. Ông thắp hương trên bàn thờ có rất nhiều tượng, những lá bùa xanh đỏ treo, dán khắp nơi. Ông không nói gì, tự tay pha nước mời bà Nở.

Ông K. bảo: “Lẽ ra sớm nay tôi vào Sài Gòn để làm lễ động thổ cho một dự án xây nhà cao tầng, nhưng đêm qua, bề trên đã nói với tôi rằng, sáng nay có người đàn bà bất hạnh khổ đau bậc nhất Hải Phòng sẽ tìm đến nhà. Cứu mạng người bằng xây mười tòa tháp, nên tôi đề nghị người ta đổi vé may bay đến chiều, để tôi ở nhà tiếp bà.

Bà không cần nói gì cả. Tôi đã biết rõ hết về bà rồi. Nghiệp nhà bà nặng lắm. Kiếp này phải trả nợ hết thì kiếp sau mới thoát. Việc trả nợ cho kiếp trước thì không ai làm gì được đâu. Nhưng không chỉ có vậy, đất nhà bà dữ lắm, toàn quỷ ma ẩn náu từ nhiều đời nay rồi.

Tôi sẽ tìm cách giúp bà trục ma quỷ ra khỏi mảnh đất ấy, để gia đình bà được yên ổn phần nào. Giờ bà để lại địa chỉ rồi cứ về. Xong việc ở Sài Gòn, tôi sẽ tìm đến nhà bà. Tôi đã nói là làm. Tôi cũng nói trước là bà không phải mất tiền nong gì cả. Bà nghèo lắm, ăn còn chả đủ, thì lấy gì trả cho tôi”.

Ông thầy K. nói vậy, rồi xua bà Nở về. Bà Nở chẳng nói được câu gì ngoài ánh mắt biết ơn ông thầy pháp ngồi trước mặt mà bà ngỡ là vị thánh sống do thiên giới cử xuống giúp bà.

Những ngày chờ đợi thầy pháp K., bà Nở bồn chồn lo lâu, mất ăn mất ngủ. Nhìn những người con ngớ ngẩn, gào thét, lòng bà quặt buốt, nhưng bà vẫn không thôi hy vọng. Bà tin thầy K. sẽ giúp gia đình bà vượt qua hoạn nạn.

Thầy K. đến thật. Thầy K. trong bộ quần áo nâu sồng. Một đệ tử đi sau, tay xách nách mang rất nhiều thứ. Thầy K. đã mua sắm đầy đủ lễ vật, hương hoa, cau trầu, tiền vàng và rất nhiều đồ vàng mã.

Ông trải những lá bùa màu vàng ra chiếu, lấy bút và vẽ bằng thứ chữ mà ông gọi là chữ Thiên. Nét chữ của ông như rồng bay phượng múa. Ông sai đệ tử dán những lá bùa do ông vẽ quanh nhà, kín 4 bức tường. Những lá bùa bay phấp phới ở cửa bếp, bể nước nơi chái nhà.

ngôi nhà 300 con ma
Sổ khám bệnh của các con bà Nở

Bà Nở kể: “Bày biện lễ vật, dán bùa xong, thì ông ấy đi vòng quanh nhà tôi, ngó nghiêng kỹ lưỡng dưới bếp, chỗ bể nước, nơi đống củi. Chỗ đống củi sau bể nước vốn là cái giếng cổ. Tôi sợ đám con điên ngã xuống, nên tôi lấp lại, chất củi lên kín mít, thế mà ông ấy bảo: “Dưới đống củi kia có cái giếng sâu lắm, có mấy con quỷ ẩn dưới giếng đó. Bà mà không lấp giếng lại thì nó kéo hết con bà xuống đó”.

Ông ấy thần thánh thật, nhìn xuyên được cả lòng đất. Ông ấy nhìn khắp nhà, sân một lượt thì bắt đầu làm lễ cúng. Cả nhà tôi ngồi sau lưng ông ấy. Mấy đứa con điên bình thường la hét dữ lắm, nhưng không hiểu sao hôm đó cứ ngồi im, mặt mũi lấm lét sợ sệt, lại còn chắp tay vái liên hồi.

Ông ấy ngồi khoanh chân, đọc tiếng Tây tiếng Tàu gì tôi cũng không hiểu được. Cúng đến gần trưa mới xong. Ông ấy sai tôi đi đốt vàng mã. Tôi đốt xong vàng mã thì ông ấy về.

Trước khi về, ông ấy còn bảo là: “Trong nhà có nhiều ma, quỷ, nhưng đáng sợ nhất là có hai thằng Tàu chết ở đây từ mấy trăm năm trước. Hai thằng này thành tinh rồi. Bất kỳ ai ở đây nó sẽ đều bắt đi. Nó sẽ lần lượt bắt hết cả nhà bà. Nhưng giờ tôi yểm bùa nhốt nó lại rồi”.

Ông ấy dặn gia đình tôi cứ yên ổn mà sống, không phải lo lắng gì nữa. Ông ấy cũng hẹn vài hôm nữa sẽ quay lại kiểm tra”.

Vài ngày trôi qua, mà không thấy thầy K. quay lại, trong khi những đứa con của bà Nở lại điên khùng nặng hơn. Sốt ruột quá, bà lại đạp xe đến nhà thầy K. Lần này gọi mãi bà giúp việc mới ra mở cổng.

Bà Nở ngỡ ngàng, tưởng như không nhận ra thầy K. nữa. Hôm trước ông K. còn hồng hào, béo tốt, khuôn mặt sáng bừng, thế mà nay sọp đi, đôi mắt thâm quầng, tóc nhiều sợi bạc. Bà giúp việc bảo suốt mấy ngày nay ông chủ không ngủ, cứ ngồi chong chong nhìn lên bàn thờ niệm Phật.

Ông K. nói với bà Nở: “Tôi không giúp được bà nên không đến nữa. Đêm nào hồn ma hai thằng người Tàu cùng tìm đến bóp cổ dọa giết tôi. Nó bảo tôi không được đến nhà bà nữa, nếu đến thì nó sẽ bắt tôi đi theo.

Nó còn hỏi tôi rằng, nếu ai đến nhà ông đuổi ông đi, thì ông có đi không? Nó nói nhà đó là nhà của nó, nó sống mấy trăm năm ở đó rồi, nên không ai đuổi nó đi được”.

Đất dưới chân bà Nở như sụt xuống. Đang tràn trề hy vọng, bà Nở không còn biết bấu víu vào đâu nữa. Bà cũng không thể làm khó ông K. được, vì chuyện này liên quan đến mạng sống của ông.

Chừng tháng sau, bà Nở lại đạp xe đến nhà ông K., biết đâu ông lại đổi ý và giúp đỡ. Tuy nhiên, bà sốc nặng khi biết ông K. vừa chết được mấy ngày. Ông K. là thương binh, viên đạn vẫn găm trong đùi, đi lại cà nhắc, nhưng ông rất khỏe mạnh, không bệnh tật gì. Bà giúp việc bảo rằng, sau nhiều đêm mất ngủ, ông K. đột nhiên lăn ra chết, không rõ bệnh gì.

Bất lực với “ngôi nhà ma ám”

ngôi nhà 300 con ma
Thầy cúng yêu cầu bà Nở phải phá bếp đi, dựng cây hương ở chỗ bếp để thờ cúng, vì dưới bếp có nhiều xương cốt. Tuy nhiên, phá bếp rồi chả biết đun nấu ở đâu, nên bà không đồng ý.

Sau vụ thầy K. trấn yểm thất bại, thì có một cô ở chợ Con, là cô đồng, chuyên cúng bái, đặt bát hương tìm đến giúp đỡ. Cô này bốc 3 bát hương, 2 bát để trong nhà, 1 bát ngoài sân. Cô này bắt bà Nở chuyển bếp ra chỗ khác, không được đun ở chỗ góc nhà, vì theo cô, phía dưới có người chết. Việc đun bếp trên đầu người chết là rất kỵ.

Cô này cũng không cho để xoong nồi trong nhà, vì theo cô trong nhà cũng có rất nhiều ma. Đặt bát hương xong, thấy nhà cửa tềnh toàng, cô mua cho chiếc tủ nằm để đặt bát hương, đựng quần áo, làm cho cái cửa chuồng xí, làm thêm cho cái chạn đựng bát đĩa. Cô này làm 2 mâm lễ, một để ngoài trời, một để trong nhà rồi cúng bái khá lâu.

Cúng xong, cô bảo: “Nhà bà có nhiều ma quỷ ẩn náu. Tôi trình độ có hạn, không giúp được, nhưng tôi sẽ gọi chú em tôi, là thầy cao tay giúp bà”.

Đúng như lời hứa, vài hôm sau thì có thầy cúng từ mãi Thái Bình sang. Thầy cúng này là em trai của cô, trụ trì một ngôi chùa ở Thái Bình. Ông thầy này cũng xem xét quanh nhà và bảo trong nhà có nhiều ma lắm, đều đã thành tinh cả. Thầy cúng yêu cầu bà Nở phải phá bếp đi, dựng cây hương ở chỗ bếp để thờ cúng, vì dưới bếp có nhiều xương cốt.

Tuy nhiên, phá bếp rồi chả biết đun nấu ở đâu, nên bà không đồng ý. Ông thầy cúng này bảo: “Bà không làm theo tôi thì khó xử lý lắm. Tôi cứ cúng giải hạn cho bà thôi, chứ không trấn yểm được đâu. Toàn ma quỷ thành tinh thế này thì làm sao mà xử lý được”. Cúng bái xong, ông thầy này đi luôn, không trở lại nữa.

Hồi năm ngoái, một vị sư cùng 2 đệ tử đi ô tô xuống nhà bà Nở. Vị sư này 60 tuổi, nói rằng đang tu ở chùa Hương. Ông đi vòng quanh nhà xem xét và bảo đất vuông vắn, đẹp đẽ, không có gì cả.

Bà Nở hỏi: “Có ma quỷ gì không? Có ai trấn yểm không?”. Ông sư này bảo không có ai trấn yểm gì, cũng không có ma quỷ. Tuy nhiên, ông sư này bảo nguyên nhân đàn con điên khùng, thậm chí cả họ gặp họa, là vì con cháu để mồ mả tổ tiên thất lạc hết cả. Lời ông sư này nói không sai tý nào.

Sau khi bố ông Phong, tức bố chồng bà vào Nam, con cháu mỗi người một nơi, thì mộ tổ tiên ở Vĩnh Phú bỏ hoang, rồi thất lạc hết.

Giờ anh chị em chết hết, thì cũng không còn ai biết đến mồ mả tổ tiên nữa. Thậm chí, hồi Nhà nước làm đường lớn, đè lên 2 ngôi mộ tổ, cũng không ai biết mà di chuyển. Giờ đây, các thầy lại phán thêm nguyên nhân này nữa, thì bà Nở không biết phải làm gì.

Xem thêm >> Thất kinh ngôi nhà 300 con ma ám khiến 10 người con lần lượt hóa điên tại Hải Phòng (Kỳ 1)

Xem thêm >> Rợn người nghe thợ lặn chia sẻ câu chuyện có thật về ma nước

Like page báo gia đình để cập nhật tin tức mới nhất

3 BÌNH LUẬN

Gửi phản hồi